Dấu gạch nối, gạch ngang en, gạch ngang em hay dấu trừ?
Dấu gạch nối (-) là dấu ngắn trên bàn phím của bạn. Nó nối các từ (well-known, twenty-one) và ngắt một từ ở cuối dòng.
Gạch ngang en (–) rộng khoảng bằng chữ n. Dùng nó cho khoảng và mối liên hệ: trang 10–20, 9:00–5:00, chuyến bay New York–London.
Gạch ngang em (—) rộng khoảng bằng chữ m. Nó tách một chỗ ngắt hoặc lời nói thêm trong câu: “Câu trả lời—nếu có—có thể chờ.” Kiểu Chicago viết nó không có dấu cách, kiểu AP đặt một dấu cách mỗi bên, và người viết Anh thường dùng gạch ngang en có dấu cách – như thế này – thay thế.
Dấu trừ (−) là ký tự toán học rộng bằng dấu cộng, nên 5 − 3 thẳng hàng gọn gàng trong công thức và bảng. Dấu gạch nối trên bàn phím là cách thay thế phổ biến, nhưng − mới là dấu đúng.
Các dấu gạch ngang ít gặp hơn
Gạch ngang chữ số ‒ có chiều rộng bằng một chữ số và dành cho các số như số điện thoại (555‒0199). Gạch nối không ngắt dòng ‑ giữ một từ có gạch nối trên cùng một dòng. Thanh ngang ― là gạch ngang trích dẫn mở đầu lời trích và đối thoại trong một số truyền thống sắp chữ. Với các gạch ngang siêu dài hai em ⸺ và ba em ⸻, xem trang ký hiệu gạch ngang dài.
Cách gõ dấu gạch ngang
Trên Mac, Option + - gõ gạch ngang en và Option + Shift + - gõ gạch ngang em. Trên Windows, giữ Alt và gõ 0150 cho – hoặc 0151 cho — trên bàn phím số.
Trong Microsoft Word, gõ hai dấu gạch nối giữa hai từ (word--word) và Word thay chúng bằng gạch ngang em; gõ dấu cách, dấu gạch nối và dấu cách giữa các từ và bạn có gạch ngang en. Word cũng có Ctrl + Num - cho – và Ctrl + Alt + Num - cho —. Trên iPhone, nhấn giữ phím dấu gạch nối để chọn – hoặc —, và Smart Punctuation biến hai dấu gạch nối thành — khi bạn gõ.
Trong HTML, dùng –, — và −. Trong LaTeX, gõ -- cho gạch ngang en và --- cho gạch ngang em. Với các đường dài trang trí thay vì dấu câu, xem ký hiệu đường ngang.